Sách Giọt Nắng Trong Tim

THÔNG BÁO: TẠM NGỪNG HOẠT ĐỘNG KHU VỰC "ZING CHỢ"


Trang 1/2 12 cuốicuối

kết quả từ 1 tới 10 trên 17
  1. #1
    Tham gia: 16-04-2011
    Bài gởi: 16

    Mặc định Gia vị - Giá trị của những bữa ăn ngon

    Với kinh nghiệm lâu năm trong việc biên tập và sưu tâm các bài viết liên quan đến Gia vị chế biến món ăn, tôi xin lập box này để chia sẻ các loại gia vị thập cẩm nhi lai của các món ăn ngon Việt Nam.

    Rất mong các bạn thành viên tham gia tích cực để cống hiến cho xã hội 01 trang đầy đủ nhất về các loại gia giảm, gia vị cho bữa ăn ngon hàng ngày.

  2. Các bài viết khác cùng chuyên mục

  3. #2
    Tham gia: 16-04-2011
    Bài gởi: 16

    Mặc định Các loại lá - có trong thường ngày của người Việt

    Lá Ngổ (Cây Ngổ, Rau Ngổ)


    Ngổ, ngò om hay ngò ôm (danh pháp khoa học: Limnophila aromatica) là một loại rau gia vị sống tại vùng khí hậu nhiệt đới thuộc họ Mã đề. Các tỉnh miền Nam gọi là rau om hay rau ôm. Tại các tỉnh miền Trung, rau này còn được gọi là ngổ hương. Các tên gọi khác ngổ thơm, ngổ om, mò om hoặc ngổ điếc.



    Ngổ là cây thân thảo, mọc bò, thân rỗng giòn, dài 20 - 30cm, có nhiều lông, mùi rất thơm, lá nhẵn, mọc đối, không cuống, hơi ôm thân. Phần lá gần thân nhỏ lại, mép hơi có răng cưa thưa. Hoa gần như không cuống mọc đơn độc ở nách lá. Quả nang nhẵn, có bướu và nếp nhăn dọc theo quả, ngắn hơn lá đài. Hạt nhẵn hình trụ có màu đen nhạt, có vân mạng.


    Phân bố
    Ngổ mọc nhiều nhất trong vùng Đông Nam Á, nơi chúng phát triển dễ dàng trong môi trường nóng và nhiều nước, như trong ruộng lúa. Chúng mọc nổi trên mặt nước nhưng cũng có thể trồng trên cạn nếu tưới nhiều nước; khi đó rau mọc thành bụi. Rau này được sử dụng nhiều trong ẩm thực Việt Nam và cũng có thể dùng như một cây cảnh trong hồ cá cảnh hoặc bể thủy sinh. Rau này được giới thiệu tới Bắc Mỹ giữa thập niên 1970 do người Việt vượt biên sang nhập cư sau chiến tranh Việt Nam .
    Ngổ từng được phân loại vào họ Huyền sâm (hay họ Hoa mõm sói) - Scrophulariaceae.
    Ngổ dễ bị lẫn với ngổ trâu (Enhydra fluctuans Lour.) mà miền Nam gọi là rau ngổ hay ngổ cộng thuộc họ Cúc (Compositae), là loại cây sống nổi hay ngập nước.


    Sử dụng trong ẩm thực
    Ngổ có một hương vị nằm giữa chanh và thì là. Trong ẩm thực Việt Nam, rau này được sử dụng thường xuyên nhất để nấu canh chua kiểu miền Nam, đôi khi dùng kèm với phở Sài Gòn hoặc để ướp thịt, nấu lẩu . Ở miền Bắc, ngổ và rau răm là hai loài rau gia vị không thể thiếu cho món chân giò giả cầy.
    Rau ngổ (ngò ôm) là một trong những nguyên nhân dẫn đến ngộ độc thực phẩm và rối loạn tiêu hóa vì thân có nhiều lông và thường mọc ở ao hồ bị nhiễm bẩn nên rất khó rửa sạch để diệt hết vi khuẩn


    Y học cổ truyền
    Trong y học cổ truyền, ngò ôm được dùng để chữa trị sạn thận (sỏi đường tiết niệu), làm thuốc lợi tiểu, chữa những cơn đau thắt bụng . Có thể dùng tươi hoặc phơi sấy khô làm thuốc. Một số nghiên cứu dược học tại Việt Nam cho thấy ngổ có độc tính không đáng kể và độ sử dụng an toàn khá cao, có tác dụng lợi tiểu, giãn cơ, chống co thắt. Tác dụng giãn cơ giải thích thuốc làm mất cơn đau bụng, giãn mạch, tăng lọc cầu ở thận, tăng lượng nước tiểu làm cho viên sỏi bị đẩy ra ngoài, bệnh nhân có thể tiểu ra những viên sỏi nhỏ.


    Sưu tầm
    Nội dung được thay đổi bởi: babykate123, 12-05-2011 lúc 12:53 Lý do: xoa' link

  4. #3
    Tham gia: 16-04-2011
    Bài gởi: 16

    Mặc định Lá lốt - Xương sông

    Lá lốt là cây thân thảo đa niên, có tên khoa học Piper lolot thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae), gồm các loài như trầu không, hồ tiêu v.v. Một số địa phương còn gọi là "nốt", (ở Nam bộ có nơi gọi là "Lá lốp").

    Gia vị chế biến món ăn không thể thiếu cho món Canh Chuối, Thịt băm viên Chả Lá Lốt



    Cây lá lốt cao khoảng 30-40 cm, mọc thẳng khi còn non, khi lớn có thân dài không thể mọc thẳng mà trườn trên mặt đất. Lá đơn, có mùi thơm đặc sắc, nguyên, mọc so le, hình tim, mặt lá láng bóng, có năm gân chính phân ra từ cuống lá; cuống lá có bẹ. Hoa hợp thành cụm ở nách lá. Quả mọng, chứa một hạt.
    Lốt thường được trồng bằng cách giâm cành nơi ẩm ướt, dọc bờ nước, để lấy lá làm gia vị và làm thuốc. Bò nướng lá lốt là một món ăn đặc sắc của Việt Nam.
    Lá và thân chứa các ancaloit và tinh dầu, có thành phần chủ yếu là beta-caryophylen; rễ chứa tinh dầu có thành phần chính là benzylaxetat.


    Công dụng
    Lá lốt có vị nồng, hơi cay, có tính ấm, chống hàn (như bị lạnh bụng), giảm đau, chống phong hàn ở mức thấp, tay chân lạnh, tê tê, nôn mửa, đầy hơi, khó tiêu (có lẽ vì thế mà được dùng với thịt bò nướng vốn khó tiêu), đau đầu vì cảm lạnh...
    Nước sắc toàn cây trị đầy bụng, nôn mửa vì bị hàn. Nước sắc rễ chữa tê thấp vì bị khí hàn. Cành lá sắc đặc ngậm chữa đau răng. Lá tươi giã nát, phối hợp với lá khế, lá đậu ván trắng, mỗi thứ 50g thêm nước gạn uống giải độc, chữa say nắng.
    Lá lốt còn được dùng để nấu nước ngâm tay chân cho người bị bệnh tê thấp, hay đổ mồ hôi tay, mồ hôi chân.
    Lá lốt còn là một nguyên liệu để nấu các món ăn như chả băm viên lá lốt, ốc nấu chuối đậu, canh lá lốt, bò cuốn lá lốt...

    Sưu tầm

  5. #4
    Tham gia: 12-05-2011
    Bài gởi: 1

    Mặc định Tỏi tây - Gia vị lá

    Tỏi tây (danh pháp khoa học: Allium ampeloprasum thứ porrum (L.)) là một cây rau, cùng với hành và tỏi, kiệu , thuộc về Họ Hành (Alliaceae). Đây là cây cỏ to, lá dẹp. Lá và củ dùng làm thức ăn. Tỏi tây được trồng bằng củ.



    Các bằng chứng khảo cổ được tìm thấy ở các lăng mộ Ai Cập và các bức vẽ xưa cho thấy tỏi tây đã được dân Ai Cập cổ đại sử dụng làm thức ăn từ thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên. Tỏi tây là một trong những huy hiệu quốc gia của xứ Wales và người dân ở đây đội nó lên vào Ngày Thánh David.
    Tỏi tây là loại cùng thuộc dòng họ tỏi nhưng lá của nó lớn hơn tỏi bình thường rất nhiều. Sự tinh tế trong hương vị của nó là gia vị tuyệt vời cho các món súp, chua mặn và canh.
    Loại tỏi tây có quanh năm nhưng nhiều nhất vẫn là vào mùa xuân.


    Cách chọn tỏi
    Nên chọn loại cây có màu xanh sáng, cây thẳng, không có vết sần hay trắng ở dưới gốc cây. Tránh những cây tỏi già, lá vàng úa, không có màu xanh sáng và có dấu hiệu già ở phần gốc rễ.


    Cách bảo quản
    Cắt bỏ phần lá cho ngắn bớt để tránh bị úa, giữ nguyên phần gốc rễ, để vào trong túi nhựa trong ngăn tủ lạnh sẽ bảo quản được khoảng 5 ngày. Nhớ là không được rửa trước khi cho vào tủ lạnh


    Ăn tỏi Tây
    Tỏi này dùng làm gia vị như loại tỏi bình thường trong các món ăn của bạn. Tuy nhiên không phải là món nào cũng cho được. Nên dùng trong món súp, xào nấu hoặc canh. Tỏi Tây có mùi hăng hơn nên khi ăn, nhiều người chưa thích ứng được ngay.

    Sưu tầm
    Nội dung được thay đổi bởi: babykate123, 12-05-2011 lúc 12:55 Lý do: xoa' link

  6. #5
    Tham gia: 12-05-2011
    Bài gởi: 7

    Mặc định Rau răm - Quý ông nên bớt ăn rau răm

    Đặc điểm
    họ Thân đốt hay họ Rau răm), là cây thân thảo, lá của chúng được sử dụng rộng rãi trong các món ăn của khu vực Đông Nam Á. Trong một số văn bản thuộc các ngôn ngữ khác, chẳng hạn như tiếng Anh đôi khi người ta gọi nó là Vietnamese mint, Vietnamese cilantro, Vietnamese coriander hay Cambodian mint, tiếng Đan Mạch là Vietnamesisk koriander v.v



    Có tên gọi như vậy là do lá và thân non của nó được sử dụng rộng rãi và rất đặc trưng trong nghệ thuật ẩm thực của Việt Nam - mà các du khách ngoại quốc rất thích.


    Cách sử dụng
    chủ yếu nó được ăn sống như một loại rau gia vị trong đĩa rau sống hay được sử dụng ở dạng thái nhỏ cho vào các món ăn như bún thang (một đặc sản của Hà Nội), miến (với thịt vịt hay ngan), cháo nấu bằng trai hay hến hoặc ăn kèm trứng vịt lộn cùng với hạt tiêu xay mịn và một chút muối ăn. Món gỏi gà xé phay cũng dùng rau răm làm tăng hương vị. Người dân ở khu vực Huế còn có món gà bóp, trong đó thịt gà trộn lẫn với rau dăm và hạt tiêu, tỏi, đường, ớt, dấm hay chanh.


    Tác hại
    Kết quả nghiên cứu cho thấy rau răm chứa một số tinh dầu và vài chất có tác dụng ức chế dục tính.
    Người mang bầu cần thận trọng khi ăn rau răm vì ăn nhiều có nguy cơ sẩy thai


    Công dụng
    Rau răm có tác dụng chữa bệnh đầy hơi, đau bụng, hắc lào.


    Sưu tầm

  7. #6
    Tham gia: 12-05-2011
    Bài gởi: 7

    Mặc định Rau mùi - Cộng dụng tuyệt vời của rau mùi

    Rau mùi hay còn gọi là ngò, ngò rí, ngổ, ngổ thơm, hồ tuy, nguyên tuy, hương tuy, là loài cây thân thảo sống hằng năm thuộc họ Hoa tán (Apiaceae), có nguồn gốc bản địa từ Tây Nam Á về phía tây đến tận châu Phi.[/B]



    Cao 35-50 cm, thân nhẵn, phía trên phân nhánh. Lá ở gốc có cuống dài, có 1 đến 3 lá chét, lá chét hình hơi tròn, xẻ thành 3 thuỳ có khía răng to và tròn; những lá phía trên có lá chét chia thành những thùy hình sợi nhỏ và nhọn. Hoa trắng hay hơi hồng, hợp thành tán gồm 3-5 gọng, không có tổng bao; tiểu bao gồm 2-3 lá chét đính ở một phía. Quả bế đôi hình cầu, nhẵn, dài 2-4 mm, gồm hai nửa (phân liệt quả), mỗi nửa có bốn sống thẳng và hai sống chung cho cả hai nửa.

    Sử dụng
    Cây có mùi thơm, thường được trồng làm rau thơm và gia vị. Ở nhiều nước vùng ven Địa Trung Hải, một số nước Trung Á, Ấn Độ, Trung Quốc, mùi được trồng quy mô lớn để lấy quả làm thuốc và cất lấy tinh dầu trong công nghiệp làm nước hoa.
    Ngoài ra, người ta còn dùng cả rễ và lá làm thuốc. Theo dân gian thì mùi kích thích tiêu hoá và lợi sữa, được dùng để làm cho sởi chóng mọc.

    Sưu tầm

  8. #7
    Tham gia: 12-05-2011
    Bài gởi: 7

    Mặc định Mơ tam thể - Thần dược chữa bệnh trĩ

    Mơ tam thể, Mơ lông - Paederia lanuginosa Wall., thuộc họ Cà phê - Rubiaceae.

    Mô tả
    Dây leo khoẻ, có mùi mạnh. Nhánh tròn có lông. Lá to, phiến xanh, gốc hình tim, mặt dưới ửng tím đỏ, có lông mịn, gân phụ 7-8 cặp; cuống dài 3-6cm; lá kèm hình tam giác. Cụm hoa chùy ở nách lá và ở ngọn; hoa có tràng thường trắng, có miệng tím, có lông; nhị 5. Quả hình cầu, có đài màu vàng.


    Bộ phận dùng
    Lá - Folium Paederiae Lanuginosae.
    Nơi sống và thu hái: Cây được trồng làm rau gia vị từ đồng bằng đến miền núi. Trồng vào mùa xuân thu, ở bờ rào, bờ ao có lùm bụi cho leo, cắt đoạn dây bánh tẻ dài 40-50cm; trồng theo kiểu trồng khoai lang, chừa ngọn lên trên, tưới nước và bắt cho cây leo.


    Tính vị, tác dụng
    Vị đắng, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, sát trùng.


    Công dụng:
    Nhân dân ta quen dùng lá Mơ Tam thể để chữa kiết lỵ đi ngoài ra máu mùi hoặc có sốt, hay đại tiện thất thường, ỉa chảy phân lổn nhổn: người ta lấy lá Mơ Tam thể (30g) thái nhuyễn trộn với một quả trứng gà, thêm vài hạt muối, đánh đều, dàn mỏng trên lá chuối, gói lại rồi lót thêm một lần lá chuối, đặt trên chảo, rang hoặc nướng cho chín, đến khi thấy cháy lá chuối dưới sém vào lá gói, thì lót thêm lá, lật trên xuống dưới như đúc chả trứng cho chín mà ăn (không dùng mỡ). Ăn ngày 2 lần, trong 3 ngày liền là khỏi.
    Ðể trục giun kim và giun đũa, cũng dùng lá Mơ Tam thể giã nhỏ, cho tí muối ăn sống hoặc vắt lấy nước uống, uống liền 3 buổi sáng vào lúc đói thì giun ra. Ðể trừ giun kim, ngoài cũng dùng lá Mơ lông một nắm 30g, chế vào 50ml nước chín, vắt lấy nước cốt bơm thụt vào hậu môn, giữ lại khoảng 20 phút vào lúc 19-20 giờ trước khi đi ngủ, giun sẽ bò ra.
    Lá Mơ tươi đem nướng rồi nhét lỗ tai trị viêm tai chảy máu mủ, nước vàng.
    Nguồn sưu tầm

  9. #8
    Tham gia: 12-05-2011
    Bài gởi: 7

    Icon5 Cần tây - Ngăn ngừa bệnh tim mạch

    Cần tây có danh pháp khoa học Apium graveolens, là một loài cây thuộc họ Hoa tán.

    Cây cao, có tuổi thọ gần 2 năm, thân mọc thẳng đứng, cao tới 1,5 m, nhưng có nhiều rãnh dọc, chia nhiều cành mọc đứng. Lá ở gốc có cuống, hình thuôn hay 3 cạnh, dạng mắt chim, tù có khóa lượn tai bèo. Lá giữa và lá ngọn không có cuống, chia 3 hoặc xẻ 3 hoặc không chia thùy. Hoa gồm nhiều tán, các tán ở đầu cành có cuống dài hơn các tán bên. Không có tổng bao, hoa nhỏ màu trắng nhạt. Quả dạng trứng, hình cầu có vạch lồi chạy dọc.
    Cần tây đã trồng nhiều ở Việt Nam để làm rau ăn, rất ngon khi rau cần tây xào với thịt bò, và thường dùng kèm với món hủ tíu Nam Vang ở miền Nam VN. Cần có 2 loại; có loại cần cao, lớn, mọc hoang ở ruộng lầy, các thung lũng, bìa rừng núi; mọc nhiều nhất ở các ruộng bậc thang, sình lầy ở Quảng Ngãi, Bình Định v.v.
    Hiện nay, rau cần tây được xem như một loại rau sạch, thơm ngon, hợp khẩu vị. Rau cần tây thường sống và xanh tốt vào mùa rét. Rau cần tây có nhiều tác dụng tốt trong chữa bệnh huyết áp cao, lợi tiểu trong phù thũng.
    Bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu là rễ và củ, lá thân cây cần ăn uống chín như rau muống.


    Thành phần hóa học
    Rau cần tây có 90,5% nước, 1,95% hợp chất nitơ, 0,07% chất béo, xenluloza 1,15% và 1,13% tro, vitamin A, B, C, các chất khoáng như Mg, Mn, Fe, I, Cu, K, Ca và vitamin P, cholin, tyrosin, axít glutamic và khi chưng cất cho từ 2-3% tinh dầu không màu rất lỏng, mùi thơm đặc trưng. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là cacbua tecpen, d.limonen, silinen, sesquitecpen stinben, giaiacola, những lacton sednolit và anhydrit secdanoit v.v


    Công dụng và liều dụng
    Các nước phương Tây dùng cần tây làm thuốc lợi tiểu. Ở Trung Quốc rau cần tây dùng làm thuốc thanh giải nhiệt, giảm ho, ăn ngon, hạ huyết áp.
    Rau cần tây thu hái về phơi ráo nước trong máy, để chữa bệnh cao huyết áp, sỏi nhỏ đường tiết niệu… thu toàn bộ cây, thân và lá, củ, rễ… nấu nước uống trong ngày. Rau cần tây giã nát, đắp lên chỗ da có nhọt, viêm nhiễm. Những bệnh nhân có rối loạn chức năng gan (viêm gan mạn) dùng rau cần tây rất tốt (không ăn sống).
    Rau cần tây cũng được các bệnh nhân cao tuổi sử dụng hàng ngày ngoài tác dụng điều trị cao huyết áp, còn giúp cho lượng nước tiểu thông, sạch… Với những bệnh nhân tai biến mạch máu não, bất động… có thể dùng rau cần tây giã nát lấy nước uống tươi. Ngay cả bệnh nhân viêm gan mãn tính - hay xơ gan cổ trướng… viêm hệ niệu bàng quang, u xơ tuyến tiền liệt, phù thũng… dùng rau cần tây, rau cần ta cũng rất tốt.
    Cần tây chứa canxi, sắt, phospho, giàu protid - gấp đôi so với các loại rau khác. Cần tây còn chứa nhiều axít amin tự do, tinh dầu, mannitol, inositol, nhiều loại vitamin, giúp tăng cảm giác thèm ăn, xúc tiến tuần hoàn máu và bổ não. Cần tây tính mát, vị ngọt, tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trị đàm nhiều đầy ngực, lao hạch... Thử nghiệm đã chứng minh rau cần có tác dụng giảm áp rõ rệt, thời gian duy trì tùy theo liều lượng.
    Hợp chất lưu hoá trong cần tây có khả năng tiêu diệt rất nhiều lại vi khuẩn, trong đó có loại vi khuẩn biến đổi hình dạng liên hoàn như khuẩn sâu răng. Ăn cần tây giúp phòng chống sâu răng, hạ thấp hàm lượng coletxtêrôn, ngăn ngừa các bệnh về tim, tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể, hạ huyết áp cao đồng thời khó tiêu, thiếu máu. Chữa cảm cúm ăn cần tây với cháo nóng (ăn sống, nấu canh, xào
    Mỗi ngày nên ăn một nửa củ cần tây. Chọn loại cần tây tươi sống là tốt nhất.




    Sưu tầm (công dụng của Cần tây)

  10. #9
    Tham gia: 12-05-2011
    Bài gởi: 7

    Icon8 Tía tô - Cháo tía tô chữa cảm mạo

    Tía tô (danh pháp khoa học: Perilla frutescens, đồng nghĩa: Perilla macrostachya, Perilla ocymoides, Perilla urticifolia, Ocimum frutescens) là một trong số khoảng 8 loài cây tía tô thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae hay Labiatae) giống như húng.

    Cây thảo, cao 0,5- 1m. Lá mọc đối, mép khía răng, mặt dưới tím tía, có khi hai mặt đều tía, nâu hay màu xanh lục có lông nhám. Hoa nhỏ màu trắng mọc thành xim co ở đầu cành, màu trắng hay tím, mọc đối, 4 tiểu nhị không thò ra ngoài hoa. Quả bế, hình cầu. Toàn cây có tinh dầu thơm và có lông. Loài tía tô mép lá quăn (Perilla ocymoides L. var. bicolorlaciniata) có giá trị sử dụng cao hơn.
    Được trồng phổ biến khắp nơi làm rau gia vị và làm thuốc
    Cả cây, trừ rễ, gồm lá (thu hái trước khi cây ra hoa), cành (thu hoạch khi đã hết lá), quả (ở những cây chủ định lấy quả). Phơi trong mát hoặc sấy nhẹ cho khô..
    Tinh dầu chứa perillaldehyd (4 isopropenyl 1-cyclohexen 7-al), limonen, a-pinen và dihydrocumin. Hạt có dầu béo gồm acid oleic, linoleic và linolenic; acid amin: arginin, histidin, leucin, lysin, valin.


    Sử dụng
    Lá và hạt tía tô đều được dùng trong ngành ẩm thực của các nước Ấn, Hoa, Hàn và Nhật.
    Tại Việt Nam lá tía tô dùng ăn sống cũng như nấu chín ví dụ như trong món canh cà bung. Lá tía tô còn được dùng cuốn chả nướng tương tự như chả lá lốt hay chả xương xông.
    Trong y học cổ truyền Trung Quốc, Tía tô (紫蘇) được dùng như một vị thuốc được dùng để tạo hưng phấn, trị cảm, nhức mỏi, ho suyễn. Hạt có chứa tinh dầu có tính nhanh khô (can tính), giúp bảo quản và khử trùng thức ăn.
    Sưu tầm

  11. #10
    Tham gia: 12-05-2011
    Bài gởi: 7

    A04 Mùi tàu - Giải độc thức ăn

    Mùi tàu hay ngò gai hoặc ngò tây thuộc họ Hoa tán. Cây này có nguồn gốc ở châu Mỹ.


    Ngò gai là cây cỏ thấp, có thân đơn độc, chia cành ở ngọn, hoa quả mọc ở cành. Lá mọc ở gốc, xoè ra hình hoa thị. Lá hình mác thuôn dài, bìa có răng cưa nhỏ. Hoa tự, hình đầu, hình bầu dục, hoặc hình trụ. Khi trưởng thành, hạt rụng và phát tán.
    Lá ngò gai có mùi thơm dễ chịu. Trong bát phở có lá ngò tươi giúp ăn ngon miệng. Trong nồi canh chua nấu cá có lá ngò làm mất mùi tanh. Người có bệnh đái tháo đường được cho là nên ăn lá ngò trong bữa ăn vì lá ngò gai có tác dụng làm giảm đường huyết.
    Cây mùi tàu được dùng làm rau gia vị, ăn sống hoặc nấu canh. Theo Đông y, mùi tàu có vị the, tính ấm, mùi thơm hơi hắc, công dụng kích thích tiêu hóa, mạnh tì vị, khử độc, giải khí trướng, khử thấp nhiệt, trừ hàn tà…
    Mô tả:
    Cây thảo mọc hằng năm, nhẵn, có thân đơn độc, phân nhánh ở ngọn, cao 15-50cm. Lá ở gốc hình hoa thị, mỏng, thuôn mũi mác, thon hẹp lại ở gốc, mép có răng cưa, với răng hơi có gai. Lá ở thân có răng nhiều hơn, các lá ở trên xẻ 3-7 thùy ở chóp và có nhiều gai. Hoa thành đầu hình trứng hay hình trụ, có bao chung gồm 5-7 lá bắc hình mũi mác dẹp, mỗi bên có 1-2 răng và một gai ở chóp. Quả gần hình cầu, hơi dẹt, đường kính 2mm.
    Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Eryngii Foetidi
    Nơi sống và thu hái: Cây của Mỹ châu nhiệt đới, được truyền vào nước ta, mọc hoang phổ biến nơi ẩm mát vùng đồi núi và được trồng ở nhiều nơi làm gia vị. Trồng bằng hạt vào đầu mùa mưa. Ðể làm thuốc, có thể thu hái toàn cây quanh năm, thường dùng tươi hoặc phơi khô trong mát để dùng dần.
    Thành phần hóa học: Cây chứa 0,02-0,04% tinh dầu bay hơi. Rễ chứa saponin.
    Tính vị, tác dụng: Mùi tàu có vị hơi đắng, cay, tính ấm, có mùi thơm; có tác dụng sơ phong thanh nhiệt, kiệm tỳ, hành khí tiêu thũng, giảm đau.
    Công dụng:
    Mùi tàu là cây rau gia vị quen thuộc, giúp khai vị, ăn ngon cơm, tiêu thức ăn, giải độc chất tanh. Có thể ăn sống hay nấu chín. Toàn cây được dùng làm thuốc trị: 1. Cảm mạo đau tức ngực; 2. Rối loạn tiêu hoá; 3. Viêm ruột ỉa chảy. Liều dùng: 10-15g *** uống hay sắc uống, chia làm nhiều lần. Dùng ngoài, giã nát đắp trị các vết thương và rắn cắn.Ở Malaixia, người ta dùng rễ Mùi tàu với rễ Cam thảo đất làm thuốc lợi tiêu hoá.Phụ nữ thường dùng phối hợp với Bồ kết để gội đầu cho thơm tóc.


    Sưu tầm bài viết

Các bài viết khác cùng chuyên mục


Trang 1/2 12 cuốicuối

Quyền Hạn Của Bạn

  • Bạn không có quyền tạo chủ đề mới
  • Bạn không có quyền trả lời bài viết
  • Bạn không có quyền gửi file đính kèm
  • Bạn không có quyền chỉnh sửa bài viết
  •  

Múi giờ GMT +8. Hiện tại là 11:01.

Powered by: vBulletin. Copyright ©2000-2013, Jelsoft Enterprises Ltd.

Bạn muốn quảng cáo - Đặt Zing Forum làm trang chủ

Copyright © Zing
Đơn vị chủ quản: VNG Corporation
Giấy phép MXH số 09-GXN-TTDT.